Bệnh Tiểu Đường: Triệu Chứng, Nguyên Nhân Và Cách Điều Trị

5
1617
benh-tieu-duong-nguyen-nhan-trieu-chung-va-cach-dieu-tri
Bệnh Tiểu Đường: Triệu Chứng, Nguyên Nhân Và Cách Điều Trị

Bệnh tiểu đường tất cả mọi thứ bạn cần biết để quả lý và chăm sóc sức khỏe

Tiểu đường, thường được các bác sĩ gọi là đái tháo đường, là một nhóm bệnh ám chỉ người có đường huyết cao(đường trong máu), hoặc do cơ thể không sản xuất đủ insulin, hoặc do các tế bào của cơ thể không sử dụng đúng hormone insulin, hay cả hai trường hợp trên.

Bệnh nhân có lượng đường trong máu cao thường sẽ có các triệu chứng như đi tiểu thường xuyên, khát nước nhiều và hay đói bụng.

Những thông tin đầu tiên về bệnh tiểu đường

Dưới đây là một số thông tin chính về bệnh tiểu đường.

Bệnh tiểu đường là quá trình tạo ra lượng đường trong máu cao. Vào năm 2013, ước tính có hơn 400 triệu người trên toàn thế giới mắc căn bệnh này.

Tiểu đường được phân chia thành các loại sau:

  •  Tiểu đường loại 1 – cơ thể không tạo ra insulin. Chiếm khoảng từ 5 – 10% ở các trường hợp bệnh nhân mắc tiểu đường.
  •  Tiểu đường loại 2 – cơ thể không sản xuất đủ insulin để sử dụng cho các chức năng phù hợp của cơ thể. Bệnh này chiếm khoảng 90% ở tất cả trường hợp mắc bệnh tiểu đường trên toàn thế giới.
  •  Tiểu đường thai nghén – loại này ảnh hưởng đến nữ giới trong khi mang thai.

Các triệu chứng phổ biến nhất của bệnh tiểu đường bao gồm đi tiểu thường xuyên, khát nước dữ dội và hay đói bụng, tăng cân, hoặc sụt cân bất thường, mệt mỏi
các vết thương hay vết trầy xước khó lành, rối loạn chức năng tình dục nam, tê và ngứa ran ở bàn tay, bàn chân.

Nếu bị tiểu đường Loại 1 và tuân theo một chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục đầy đủ, và uống insulin, người bệnh có thể sống một cuộc sống bình thường.

kham-bac-si-de-biet-ve-benh-tieu-duong
Bệnh Tiểu Đường: Triệu Chứng, Nguyên Nhân Và Cách Điều Trị

Bệnh nhân bị tiểu đường loại 2 cần ăn uống lành mạnh, vận động cơ thể và kiểm tra lượng đường trong máu thường xuyên.
Họ có khi cũng cần dùng thuốc uống hoặc insulin để kiểm soát lượng đường trong máu.
Vì những người bị bệnh tiểu đường có nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch cao hơn rất nhiều, điều quan trọng là huyết áp và mức cholesterol được theo dõi thường xuyên.

Vì hút thuốc có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến các vấn đề về tim mạch, bệnh nhân tiểu đường nên bỏ thuốc càng sớm càng tốt vì sức khỏe của họ và của gia đình họ.

Hạ đường huyết – lượng đường trong máu thấp có thể có ảnh hưởng xấu đến bệnh nhân.

Tăng đường huyết – khi đường huyết quá cao trong máu cũng có thể có ảnh hưởng xấu đến bệnh nhân.

Có ba loại bệnh tiểu đường:

1) Bệnh tiểu đường loại 1

Cơ thể không tạo ra insulin. Bệnh này đôi khi được gọi là tiểu đường phụ thuộc insulin, tiểu đường vị thành niên hoặc tiểu đường khởi phát sớm. Người bị bệnh tiểu đường loại 1 có độ tuổi dưới 40, và thường ở những lứa tuổi trưởng thành hoặc thiếu niên.

Bệnh tiểu đường loại 1 không phổ biến bằng bệnh tiểu đường loại 2 nó chiếm khoảng từ 5 – 10% ở tất cả các trường hợp mắc bệnh.

Bệnh nhân tiểu đường loại 1 cần tiêm insulin trong suốt cuộc đời. Họ cũng phải kiểm soát mức đường huyết thích hợp bằng cách thực hiện các xét nghiệm máu thường xuyên và theo một chế độ ăn uống đặc biệt.

2) Bệnh tiểu đường loại 2.

Cơ thể không sản xuất đủ insulin cho các chức năng thích hợp bên trong cơ thể, hoặc các tế bào trong cơ thể không phản ứng với insulin (kháng insulin). Khoảng 90% trường hợp bệnh tiểu đường trên thế giới là tiểu đường loại 2.

Một số người có thể kiểm soát các triệu chứng bệnh tiểu đường loại 2 của họ bằng cách giảm cân, tuân theo chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục nhiều và theo dõi lượng đường trong máu của họ.
Tuy nhiên, bệnh tiểu đường loại 2 thường là một bệnh ngày càng nặng hơn – nó dần dần trở nên tồi tệ hơn – và bệnh nhân có thể sẽ phải dùng insulin, ở dạng viên nén.

Những người thừa cân và béo phì có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2 cao hơn nhiều so với những người có trọng lượng cơ thể bình thường.
Thừa cân, không hoạt động thể chất và ăn các loại thực phẩm không đúng cách, đều là những nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường loại 2.

Chỉ uống một lon nước ngọt mỗi ngày có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2 lên 22%, các nhà nghiên cứu từ Imperial College London đưa tin trên tạp chí Diabetologia.
Các nhà khoa học cho biết nước ngọt có đường có thể là một tác động trực tiếp đến nguy cơ đái tháo đường, chứ không chỉ là là ảnh hưởng đến trọng lượng cơ thể.

Nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2 cũng lớn hơn khi chúng ta già đi. Các chuyên gia chưa tìm ra nguyên nhân tại sao, nhưng họ nói rằng khi chúng ta già, chúng ta có xu hướng tăng cân, ít vận động, và tuyến tụy sản xuất hormone insulin làm việc kém hiệu quả sau nhiều năm hoạt động.
Những người có một người họ hàng gần gũi mắc bệnh tiểu đường loại 2, người gốc Trung Đông, châu Phi hoặc Đông Nam Á cũng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.

Những người đàn ông có mức testosterone thấp cũng có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường loại 2. Các nhà nghiên cứu từ Đại học Edinburgh, Scotland, nói rằng mức testosterone thấp có liên quan đến sự đề kháng insulin.

3) Bệnh tiểu đường thai kỳ

Loại này ảnh hưởng đến phụ nữ trong khi mang thai. Một số phụ nữ có lượng đường glucose rất cao trong máu, và cơ thể họ không thể sản xuất đủ insulin để vận chuyển tất cả glucose vào các tế bào của cơ thể, dẫn đến tăng nồng độ glucose.

Chẩn đoán bệnh tiểu đường thai kỳ được thực hiện trong khi mang thai.

Phần lớn các bệnh nhân tiểu đường thai kỳ có thể kiểm soát bệnh tiểu đường của họ bằng việc tập thể dục và một chế độ ăn uống lành mạnh.
Khoảng từ 10% đến 20%, trong số đó có thể cần dùng một số loại thuốc kiểm soát đường huyết. Bệnh tiểu đường thai kỳ nếu không được chuẩn đoán hoặc kiểm soát có thể làm tăng nguy cơ biến chứng trong khi sinh.

Các nhà khoa học thuộc Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ và Đại học Harvard nói rằng, những phụ nữ có chế độ ăn uống trước thời kỳ mang thai chứa nhiều chất béo động vật, và cholesterol có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường thai kỳ cao hơn so với những người có chế độ ăn ít cholesterol và chất béo động vật.

Các triệu chứng bệnh tiểu đường

Tiền tiểu đường là gì?

Đại đa số bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường loại 2 ban đầu có tiền tiểu đường. Lượng đường trong máu của họ cao hơn bình thường, nhưng không đủ cao để chẩn đoán bệnh tiểu đường. Các tế bào trong cơ thể đang có nguy cơ kháng insulin.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ngay cả ở giai đoạn tiền tiểu đường, một số nguy cơ trong hệ thống tuần hoàn và tim có thể đã xảy ra.

Bệnh tiểu đường là một rối loạn chuyển hóa

Tiểu đường (đái tháo đường) được xếp vào loại rối loạn chuyển hóa. Sự trao đổi chất trong cơ thể và cách cơ thể chúng ta sử dụng thức ăn tiêu hóa để cung cấp năng lượng cho cơ thể và để phát triển cơ thể.

Hầu hết những gì chúng ta ăn sau khi tiêu hóa được chuyển thành glucose. Glucose là một dạng đường trong máu – đó là nguồn nhiên liệu chính cho cơ thể chúng ta.

Khi thức ăn của chúng ta được tiêu hóa, glucose sẽ đi vào dòng máu của chúng ta. Các tế bào của chúng ta sử dụng glucose để cung cấp năng lượng và phát triển cơ thể.
Tuy nhiên, glucose không thể xâm nhập vào các tế bào của chúng ta mà không có insulin – insulin làm cho các tế bào của chúng ta có thể hấp thụ glucose.

Insulin là một loại hoóc-môn được sản xuất bởi tuyến tụy. Sau khi ăn, tuyến tụy tự động cung cấp một lượng insulin đầy đủ để di chuyển glucose có trong máu của chúng ta vào các tế bào, ngay sau khi glucose đi vào các tế bào đường huyết giảm xuống.

Một người mắc bệnh tiểu đường thường gặp tình trạng trong đó lượng glucose trong máu quá cao (tăng đường huyết). Điều này là do cơ thể không sản xuất đủ insulin, hoặc thậm chí là không sản xuất được một chút insulin nào, hoặc là do các tế bào không sử dụng đúng chức năng của insulin tuyến tụy tạo ra. Điều này dẫn đến quá nhiều glucose tích tụ trong máu.

Lượng đường trong máu dư thừa này sau đó thoát ra khỏi cơ thể từ nước tiểu. Vì vậy, mặc dù máu có rất nhiều glucose, nhưng vẫn không thể cung cấp đủ tới các tế bào để tạo ra năng lượng cần thiết cho sự tăng trưởng của cơ thể.

Cách xác định xem bạn có bị tiểu đường, hoặc tiền tiểu đường hay không

Bạn cần tới các bác sĩ để thực hiện các xét nghiệm xem liệu mình có bị tiền tiểu đường, hay tiểu đường không

Các bác sĩ có thể sử dụng 3 loại xét nghiệm sau

Xét nghiệm A1C

  • Nếu A1C ở mức 6,5% có nghĩa là người đó mắc bệnh tiểu đường
  •  từ 5,7% đến 5,99% là đang ở giai đoạn tiền tiểu đường
  • dưới 5,7% là bình thường không phải lo lắng gì.

Xét nghiệm FPG (xét nghiệm glucose lúc đói)

  • Mức 126 mg / dl trở lên là bị tiểu đường
  • từ 100 mg / dl tới 125,99 mg / dl là đang trong giai đoạn tiền tiểu đường
  • ít hơn 100 mg / dl là bình thường

OGTT (Xét nghiệm dung nạp glucose đường uống)

  • Nếu ở mức 200 mg / dl là mắc bệnh tiểu đường
  • từ 140 đến 199,9 mg / dl đang trong giai đoạn tiền tiểu đường
  • ít hơn 140 mg / dl là bình thường

Tại sao nó được đặt tên là đái tháo đường?

Tiểu đường xuất phát từ tiếng Hy Lạp, nó có nghĩa là một “siphon”. Aretus Cappadocian, một bác sĩ người Hy Lạp trong thế kỷ thứ hai sau Công nguyên, đặt tên cho nó là diabainein. Ông mô tả đó là những bệnh nhân đã đi tiểu quá nhiều (polyuria) – giống như một siphon. Từ này trở thành “bệnh tiểu đường“.

Năm 1675, Thomas Willis thêm vào thuật ngữ này, mặc dù nó thường được gọi đơn giản là bệnh tiểu đường. Mel trong tiếng Latin có nghĩa là “mật ong“; nước tiểu và máu của những người mắc bệnh tiểu đường có lượng đường dư thừa, và glucose ngọt như mật ong. Đái tháo đường theo nghĩa đen có nghĩa là “loại bỏ nước tiểu ngọt“.

Ở Trung Quốc cổ đại, người ta quan sát thấy kiến thường bu vào nước tiểu của một số người vì nó ngọt. Và thuật ngữ “Bệnh nước tiểu ngọt” được đặt ra.

Kiểm soát bệnh tiểu đường điều trị và phòng ngừa

Tất cả các loại bệnh tiểu đường đều có thể điều trị, nhưng chưa có phương pháp điều trị dứt điểm. Tiểu đường loại 1 kéo dài suốt đời, và phải sử dụng insulin hiện nay các nhà khoa học chưa nghiên cứu ra phương pháp điều trị dứt điểm.
Tiểu đường loại 2 cũng kéo dài suốt đời, tuy nhiên, một số người đã kiểm soát tốt thông qua việc tập thể dục, áp dụng một chế độ ăn uống lành mạnh và kiểm soát cân nặng.

Bệnh nhân tiểu đường loại 1 được điều trị bằng tiêm insulin thường xuyên, cũng như chế độ ăn uống và tập thể dục đặc biệt.

May-do-duong-huyet
Máy đo đường huyết công cụ tốt trong việc hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường

Bệnh nhân tiểu đường loại 2 thường được điều trị bằng máy đo đường huyết, tập thể dục và chế độ ăn uống đặc biệt, nhưng đôi khi cũng cần tiêm insulin.

Nếu bệnh tiểu đường không được kiểm soát đầy đủ, bệnh nhân có nguy cơ mắc các biến chứng cao hơn đáng kể.

Những bệnh nhân không quan tâm hoặc kiểm soát tốt bệnh tiểu đường của họ có thể mắc phải các biến chứng sau:

  • Biến chứng mắt – bệnh tăng nhãn áp, đục thủy tinh thể, bệnh võng mạc tiểu đường và một số bệnh khác.
  • Biến chứng chân – bệnh thần kinh, loét, và đôi khi hoại tử có thể phải cắt bỏ chân
  • Biến chứng da – người mắc bệnh tiểu đường dễ bị nhiễm trùng da và rối loạn da
  • Các vấn đề về tim – chẳng hạn như bệnh tim thiếu máu cục bộ, khi việc cung cấp máu cho cơ tim bị giảm đi
  • Tăng huyết áp – phổ biến ở những người bị tiểu đường, có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh thận, các vấn đề về mắt, đau tim và đột quỵ
  • Sức khỏe tâm thần – tiểu đường không kiểm soát làm tăng nguy cơ bị trầm cảm, lo lắng và một số rối loạn tâm thần khác
  • Mất thính giác – bệnh nhân đái tháo đường có nguy cơ phát triển các vấn đề về thính lực cao hơn
  • Bệnh nướu răng – có tỷ lệ mắc bệnh nướu răng cao hơn nhiều ở bệnh nhân tiểu đường
  • Gastroparesis – các cơ của dạ dày không hoạt động đúng cách
  • Ketoacidosis – là sự kết hợp của ketosis và toan; làm tích tụ các cơ quan xeton và axit trong máu.
  • Bệnh lý thần kinh – bệnh thần kinh tiểu đường là một loại tổn thương thần kinh có thể dẫn đến một số vấn đề khác nhau.
  • HHNS (Hyperosmolar Hyperglycemic Nonketotic Syndrome) – mức đường huyết tăng quá cao, và không có ketone trong máu hoặc nước tiểu. Đây là tình trạng khẩn cấp.
  • Bệnh thận – huyết áp không kiểm soát được có thể dẫn đến bệnh thận
  • PAD (bệnh động mạch ngoại vi) – các triệu chứng có thể bao gồm đau ở chân, ngứa ran và đôi khi gặp các vấn đề về đi lại khó khăn.
  • Đột quỵ – nếu huyết áp, mức cholesterol và lượng đường trong máu không được kiểm soát, nguy cơ đột quỵ tăng đáng kể
  • Nhiễm trùng – những người bị đái tháo đường dễ bị nhiễm trùng hơn
  • Chữa lành vết thương – những vết thương và tổn thương mất nhiều thời gian hơn để chữa lành

Trên đây là toàn bộ những gì mà một bệnh nhân đang mắc tiểu đường, hoặc có nguy cơ cao mắc tiểu đường cần biết. Để quả lý và chăm sóc tốt cho tình trạng bệnh của mình, cũng như chăm sóc những người thân khác trong gia đình.